Cuộc đối đầu Mỹ - Trung ở Thái Bình Dương: Mỹ quyết giành ngôi bá chủ

(Petrotimes) - Khoảng 80.000 bộ binh cùng 20.000 thủy quân lục chiến sẽ được tinh giảm. ½ lực lượng quân đội Mỹ tại châu Âu đang xếp balô lên đường về nước. Thay thế họ là lực lượng đặc nhiệm “bất quy ước”, oanh tạc cơ thế hệ mới, tên lửa “phiên bản cập nhật” và những binh đoàn robot…

 

Một quân đội “không người”

Đầu năm 2012, trong bản kế hoạch tổng thể phát triển, Lầu Năm Góc đã đệ trình và đề nghị Quốc hội cấp 525 tỉ USD (cộng thêm 88,4 tỉ USD cho cuộc chiến Afghanistan), so với đề xuất 553 tỉ USD vào năm 2011. Trong báo cáo chương trình chi tiêu gửi Tổng thống Barack Obama đầu tháng 1/2012, Lầu Năm Góc đã nhấn mạnh đến yếu tố “phi con người”. Các loại máy bay - chiến cụ không người, từ máy bay không người lái (UAV) Predator, Reaper, Fire Scout, X-47B… đến robot dò mìn trong lòng biển đều được nhấn mạnh. Tổng quát, quân số sẽ giảm (có thể lên đến 100.000 binh sĩ) nhưng các hệ thống chiến đấu không người sẽ tăng. Những loại “đồ cổ” cũng sẽ được thay thế (vận tải cơ C-5A và C-130…).

Máy bay do thám không người lái RQ-4A Global Hawk – một trong những vũ khí cho chiến lược quân sự “tái cân bằng” của Mỹ (tầm hoạt động 19.500km, bay liên tục 30 tiếng và mỗi giờ có thể giám sát một phạm vi 4.000km2)

Trong khi đó, hải quân sẽ được trang bị loạt “hàng mới khui thùng” (dù số lượng đặt mua giảm bớt so với dự kiến), trong đó đặc biệt đáng chú ý là các loại tàu chiến với thiết kế tinh chỉnh cơ động, chẳng hạn tàu chiến cận duyên (LCS). Đây là thế hệ tàu chiến rất mới được thiết kế để “tác nghiệp” cận bờ, với kiểu dáng gọn và linh hoạt hơn khu trục hạm, có bãi đáp trực thăng, trang bị tên lửa RIM-116, chạy với vận tốc hơn 74km/g. Chi phí đóng LCS là một trong những yếu tố khiến nó được chú ý: chỉ khoảng 350 triệu USD so với chừng 1,7 tỉ USD của khu trục hạm Aegis. Khả năng tác chiến LCS cũng linh động, từ hải chiến, phá mìn, diệt tàu ngầm đến hỗ trợ đổ bộ… Ngoài LCS, hải quân còn được bổ sung tàu cao tốc hỗn hợp (JHSV). Với vận tốc 35-45knot (65-83km/g), JHSV chuyên vận chuyển vũ khí cũng như giúp thủy quân lục chiến thâm nhập bờ biển chớp nhoáng. Tháng 11/2008, Hải quân Mỹ đã trao hợp đồng cho Hãng đóng tàu Austal của Australia đóng 9 chiếc JHSV từ 2009-2013 với giá tổng cộng hơn 1,6 tỉ USD. Một trong những JHSV đã được đóng xong và đang chạy thử là chiếc USNS Spearhead (hạ thủy tháng 9/2011)... Tất cả cho thấy xu hướng “nhanh và gọn” của Hải quân Mỹ thế kỷ XXI, ngày càng được ưu tiên phát triển, song song việc duy trì những thứ hạng nặng truyền thống, chẳng hạn hàng không mẫu hạm (HKMH).

“Sine qua non”

Với Mỹ, HKMH là một sine qua non (điều kiện tối thượng). Chương trình HKMH thế kỷ XXI của Mỹ gồm việc đóng mới lớp Gerald R. Ford, với 2 tàu - USS Gerald R. Ford và USS John F. Kennedy - dự kiến được “biên chế” vào năm 2015 và 2019. Tổng cộng, theo Navy Times (15/5/2012), sẽ có chừng 10 HKMH lớp Gerald R. Ford đóng liên tục từ nay đến năm 2058. Có trọng lượng nước rẽ khoảng 100.000 tấn, tương tự chiếc USS George H. W. Bush (lớp Nimitz; hạ thủy năm 2006), nhưng HKMH lớp Gerald R. Ford (trị giá khoảng 15 tỉ USD) đã được điều chỉnh thiết kế lại nhiều phần, với kho chứa tên lửa đạn dược rộng hơn cũng như chở được nhiều máy bay hơn…

Mỗi chiếc lớp Gerald R. Ford giúp tiết kiệm được hơn 5 tỉ USD trong 50 năm phục vụ. Cụ thể, tổng chi phí vận hành của HKMH lớp Nimitz trong 50 năm là 32,1 tỉ USD (theo thời giá 2004) trong khi USS Gerald R. Ford chỉ khoảng 26,8 tỉ USD. Được nâng cao tính tự động hóa, lớp Gerald R. Ford cũng giúp giảm đáng kể quân số thủy thủ đoàn. Cần biết (theo navy.mil/navydata), tàu lớp Nimitz (thế hệ 1970 – hiện có 10 chiếc đang hoạt động, gồm USS Nimitz, USS Theodore Roosevelt, USS Harry S. Truman, USS Ronald Reagan, USS George Washington – thuộc Hạm đội bảy…) cần đến khoảng 5.000-5.500 người; và tàu lớp Enterprise (thế hệ 1960, hiện có mỗi chiếc USS Enterprise; bắt đầu nghỉ hưu năm 2013) cần hơn 5.800 người. Trong khi đó, tàu lớp Gerald R. Ford chỉ cần hơn 4.600 người...

Xào lại cỗ bài để đánh ván mới

Những chi tiết liên quan “kỹ thuật” nói ở trên không chỉ cho thấy sự thay đổi diện mạo quân đội Mỹ mà còn cho thấy sự điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ, khi vấn đề bây giờ ai là đối thủ và cần có gì để đối phó với đối thủ đó đã trở nên rõ ràng. Trong thực tế, không phải chờ đến lúc Bộ trưởng quốc phòng Leon Panetta đến dự Đối thoại Shangri-La đầu tháng 6/2012 người ta mới biết Washington sẽ chuyển “hỏa lực” Hải quân Mỹ sang Đông Nam Á, với tỉ lệ 60/40 dành cho Thái Bình Dương so với Đại Tây Dương. Tản mát trong những phát biểu đó đây của giới chức quân sự Mỹ đã bộc lộ việc chuyển “thuốc súng” như vậy rồi.

Thời gian gần đây, Quốc hội Mỹ luôn nhấn mạnh việc cần có một hải quân mạnh về chất lẫn lượng. “Làm thế nào chúng ta có thể hoàn thành những nhiệm vụ cần hoàn thành ở Châu Á - Thái Bình Dương với số tàu ít ỏi như thế?” – phát biểu của dân biểu Rodney P. Frelinghuysen tại phiên điều trần Tiểu ban Quản lý chi tiêu (nơi có sức ảnh hưởng nặng ký trong Quốc hội). “Làm thế nào mà các anh chỉ có một con tàu cho hai địa điểm cùng lúc?” – phát biểu tiếp theo của dân biểu Ander Crenshaw. “Ôi, tôi nhớ làm sao cái thời mà hải quân chúng ta có đến 600 con tàu…” – than thở của dân biểu Jo Bonner…

USNS Spearhead, “hàng mới khui thùng” năm 2011, một trong những tàu chiến thế hệ mới của Hải quân Mỹ

Đó là thái độ phản hồi trước kế hoạch của Tư lệnh Hải quân Jonathan Greenert, về việc duy trì một lực lượng vỏn vẹn 285 tàu trong 5 năm tới (Wired 1/3/2012), trong khi Nhà Trắng dự tính giảm 7 tuần dương hạm trong 5 năm tới, mua ít hơn 1 tàu ngầm lớp Virginia và hoãn thay thế tàu ngầm lớp Ohio trong 2 năm… Đô đốc Greenert giải trình: hải quân sẽ đưa “50 tàu đến Tây Thái Bình Dương; trong 5 năm, con số đó sẽ là 55; tại vùng Vịnh là 30 rồi từ từ là 32”. Dù ngân sách 2012 bị giảm 2,5% so với 2011 nhưng hải quân vẫn duy trì những “sine qua non” lẫn các phi đội chiến đấu cũng như ngân sách R&D. Và vào giờ này sang năm (2013), theo đô đốc Greenert, USS Freedom - chiếc đầu tiên trong 55 tàu LCS mà hải quân đặt mua - sẽ đến Singapore. Loại tàu có khả năng tác chiến linh hoạt như USS Freedom sẽ đóng vai trò như những con cờ di động, được cơ biến dịch chuyển, tùy “tình hình thời sự”. Việc có mặt 16 tháng của chúng tại một “trạm”, như được quy định, sẽ giúp những con tàu khác rảnh hơn để rồi lại dễ dàng được điều chuyển đến nơi khác. Sự thay đổi liên tục của những quân cờ sẽ tạo ra một thế cờ vây rối mù khó đoán...

Dựa vào viễn kiến cũng như hành động của giới chỉ huy Hải quân Mỹ, có thể nói rằng, sự cân chỉnh quan trọng nhất là chiến lược tiếp cận mang tính địa lý song song việc dồn hỏa lực ngoại giao vào Thái Bình Dương – một chiến lược được triển khai theo tư duy và tầm nhìn chứ không đơn giản xuất phát từ lý do “cơ chế” ngân sách. Chỉ trong vài năm, HKMH USS Kitty Hawk (chiếc cuối cùng của lớp Kitty Hawk) đã được cho nghỉ hưu và thay bằng USS George Washington tại biển Nhật Bản; dàn khu trục hạm tại Yokosuka nhất loạt được nâng cấp (hiện gồm 7 tàu đều được trang bị hệ thống tên lửa bắn chặn Aegis); đưa 3 tàu ngầm tấn công chạy hạt nhân lớp Los Angeles đến Guam; đưa 3 UAV do thám Global Hawk đến “thường trú” tại căn cứ Guam; tăng số tàu quét thủy lôi đến Sasebo - Nhật (từ 2 lên 4); nâng cấp loạt sân bay, cầu cảng và hạ tầng Hải quân Mỹ tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương; lập kế hoạch xây bến cảng có khả năng giúp HKMH neo đậu tại Guam…

Cùng lúc, Mỹ cũng áp dụng chiến thuật GMP (Global Maritime Partnership - Đối tác hàng hải toàn cầu) – một khái niệm giúp tăng cường hợp tác để mang lại sức mạnh cho một lực lượng Hải quân vốn đang bị co rút về mặt “số học”. Nói cách khác, đó là “kỹ thuật” dùng sức người để tạo thêm sức cho mình. Bằng công cụ GMP, có thể nói hải quân Mỹ không chỉ có “285 tàu trong năm năm tới” mà có thể có đến gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba, nhờ sự cộng thêm lực lượng hải quân các nước đồng minh. GMP không chỉ là cách để gián tiếp tăng quân số mà còn tăng tính hiệu quả và xác suất thành công để thực thi một sứ mạng quân sự. Công thức GMP đã thể hiện cụ thể ở những cuộc phối hợp tập trận, bởi các thương vụ vũ khí, bởi những chuyến kinh lý thực địa của giới chức ngoại giao và quốc phòng... Kể từ khi chiếc khu trục USS Vandegrift trở thành con tàu chiến Mỹ lần đầu tiên đến Sài Gòn (tháng 11/2003) sau 30 năm, đã có hơn 20 tàu chiến Mỹ cập cảng nước ta (Navy Times 3/6/2012). Tương tự, tháng 7/2007, lần đầu tiên 1 HKMH Mỹ (USS Nimitz) đã cập cảng Chennai của Ấn Độ; và tháng 4/2011, USS La Jolla cũng trở thành chiếc tàu ngầm hạt nhân Mỹ lần đầu tiên đến nước này...

Gút lại, để biết Mỹ liệu có đủ sức “ôm sô” tại Đông Nam Á hay không, có lẽ không cần thiết đếm họ có bao nhiêu con tàu mà phải quan sát xem thể hiện của chiến lược GMP như thế nào. Sức mạnh của hỏa lực Mỹ tại đấu trường Thái Bình Dương giờ đây đang nằm trong GMP…

(Xem tiếp kỳ sau)

Mạnh Kim (Năng lượng Mới số 139, ra thứ Sáu ngày 20/7/2012)