Mổ xẻ "mầm bệnh" trong trùng tu di tích

(Petrotimes) - Đến chùa Tứ Liên (Hà Nội) ai cũng nhìn thấy câu khẩu hiệu: “Làm chùa tô tượng đúc chuông, ba công đức ấy thập phương nên làm” đặt giữa hai chú sư tử đá mang phong cách Hollywood! Trong hoàn cảnh “đại dịch” trùng tu theo lối hoành tráng, lai căng lan tràn và bức tử di sản vật thể của cha ông, những tuyên ngôn kiểu này dường như đang cổ xúy cho đủ loại “ung nhọt trùng tu” nảy nở.

Điểm mặt “bệnh tự”

Nhìn chùa Tứ Liên trên đường Âu Cơ, nhiều người chắc hẳn sẽ không thể bỏ qua cửa Tam quan (kiêm gác chuông) cao 3 tầng với cánh cổng đồ sộ to và dày với các núm giả hàng đinh và tay nắm cửa đầu thú rất uy nghiêm vốn khá quen thuộc trong phim cổ trang Trung Quốc.

Chùa Vạn Niên ven Hồ Tây là ngôi chùa theo phong cách Phật giáo Tây Tạng đã đến gần ngàn năm tuổi. Chưa biết bên trong chùa có những bảo vật nào, nhưng dãy hàng rào là những bức tranh thú bằng gỗ, có mái che, phía trên bày hàng loạt tủ kính để tượng phật, thánh các loại thì quả là ấn tượng.

Không được hoành tráng như những “bệnh tự” kia nhưng chùa Trung Kính Thượng lại có kiểu tượng sư tử uy lực đặt chân lên quả cầu tạo cảm giác khoa trương nơi cửa Phật. Lối làm đèn vườn kiểu Nhật lại càng phổ biến ở các chùa Hà Nội. Đèn đá tác mái có 4 góc cong và nhọn, đặt đá, xếp cây khiến khách tham quan có cảm giác như đang xem một vườn thiền thu nhỏ. Đó là chưa kể đến vô số kiểu khuôn viên bày quần thể tượng (chùa Phổ Linh), những tòa tháp bằng đá cao vút (chùa Bằng A).

“Bắt bệnh” cho ngành trùng tu

Đã qua rồi những ngày đói kém, giờ không ít chùa đều có của ăn của để. Nhà chùa không thể chấp nhận cảnh “giản dị” của nơi tu hành. Đáng nói hơn là những quy chuẩn pháp lý trong trùng tu di tích còn nhiều bất cập.

Hiện, hầu hết các dự án tôn tạo di tích đều dựa trên cơ sở Quy chế Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hóa – danh lam thắng cảnh số 05/2003/QĐ-BVHTT và Quyết định 13/2004/QĐ-BVHTT về việc ban hành “Định mức dự toán bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh”. Tuy nhiên, vấn đề lại ở chỗ, người lập dự án tôn tạo di tích còn phải vận dụng Quyết định 957/QĐ-BXD về định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình, tham khảo thêm văn bản QCVN 03:2009/BXD về phân loại, phân cấp công trình xây dựng. Theo đó, ngoại trừ các di tích thuộc hàng quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, hay di tích của tỉnh, số còn lại chỉ được xếp hạng là các công trình dân dụng.

Thạc sĩ Phạm Đức Hân, Giám đốc Công ty CP Bảo tồn Di sản Văn hóa Việt là người hiểu rõ vấn đề này, bởi anh không ít lần đau đầu khi tính dự toán dựa trên hệ thống luật “nhiều nhưng thiếu” như hiện nay. “…Nếu theo Quyết định 957/QĐ-BXD thì chi phí tư vấn, thiết kế, tu bổ, tôn tạo một di tích đang được quy định bằng chi phí tư vấn, thiết kế cho một công trình xây dựng… nhà cấp ba, cấp bốn ”, anh Hân tỏ ra bức xúc.

Theo anh Hân, nếu như Quyết định 05/2003/QĐ-BVHTT và Quyết định 13/2004/QĐ-BVHTT không dừng ở mức “quy chế” và “quyết định” mà đưa lên thành luật, kèm theo đó là văn bản hướng dẫn phù hợp, chi tiết thì những công trình thuộc dạng đặc biệt như các di tích cổ sẽ không bị trùng tu một cách cẩu thả như hiện nay.

Trong một bài viết, TS Nguyễn Thế Hùng, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa đã cảnh báo về những kiểu “yêu mến” di tích một cách thiếu hiểu biết của các chủ đầu tư và đưa ra ví dụ về một người sẵn sàng cung tiến hàng trăm triệu để sửa lại gác chuông có niên đại thế kỷ XVI bằng bê tông cốt thép.

Trong trùng tu di tích cho phép một số hạng mục phù hợp với hiện đại như nơi ở, công trình phụ, song mảng kiến trúc tâm linh lại khác hoàn toàn. Về nguyên tắc, việc tự ý xây dựng làm mới công trình chẳng khác nào vi phạm pháp luật. Đặc biệt, di tích đã được xếp hạng quốc gia muốn tôn tạo phải được sự cho phép thông qua Sở Văn hóa, Cục Di sản văn hóa và các đơn vị liên quan. Tuy nhiên, đa số trường hợp trùng tu trái phép đều lách luật hoặc dựa vào các mối quan hệ cá nhân để tự ý phá hoại di tích. “Nếu tính đó là vi phạm luật phải có chế tài xử lý kèm theo, nhưng đến giờ chế tài này vẫn chưa rõ ràng. Ở những ngôi chùa tại thành phố lớn, người ta thấy hiện tượng trái phép quá rõ ràng thì cho đình chỉ công trình, chứ ở vùng nông thôn xa xôi, thấy vi phạm đấy mà không thể xử lý nổi. Hậu quả là quỹ di sản của cha ông để lại ngày càng mai một”, anh Hân cám cảnh.

Thuốc chữa?

PGS.TS Lương Hồng Quang, Viện Văn hóa – Nghệ thuật Việt Nam quả quyết rằng, vấn đề ở đây không phải là “tiền” mà là ở “nhận thức”. Ông Quang phân tích: “Nếu có tiền, người ta chẳng ngại gì không làm hoành tráng hay khuếch trương lên. Thay vì vẽ một, lại vẽ hai. Bản thân công ty tư vấn cũng muốn làm điều đó vì như thế phí tư vấn của họ sẽ cao lên. Vì vậy, anh nào chẳng muốn nở ra. Cộng thêm nữa là hiện nay lòng tham của con người rất mạnh”.

Kể từ khi Nhà nước cho phép tôn tạo di tích bằng nguồn tiền “xã hội hóa” thì phong trào tôn tạo di tích nở rộ. Các công ty xây dựng cơ bản có đăng ký thêm lĩnh vực tu bổ, tôn tạo công trình văn hóa đều sắn tay vào trùng tu công trình cổ như một nghề “tay trái” kiếm thêm. “Hiện trong nước chỉ có khoảng 30-35% các công ty nhận nhiệm vụ trùng tu là có chuyên môn thực sự về di tích cổ. Còn lại, rơi vào tay những công ty xây dựng nói chung”, anh Hân cho biết.

KTS Nguyễn Thành Vinh, Viện trưởng Viện Bảo tồn Di tích từng nói, việc trùng tu đòi hỏi sự hiểu biết, nhận thức và kỹ năng của người thực hiện, nói ngắn gọn là đòi hỏi tính chuyên nghiệp của người trùng tu. Có được điều đó cần nhiều yếu tố, mà quan trọng nhất là nhân sự.

Cách đây không lâu, KTS Hoàng Đạo Kính đã khẳng định trên một bài báo rằng, đầu tư lớn cho di tích đòi hỏi phải có lực lượng nhân sự là nhà khoa học và nghệ nhân. Không thể tính bằng giá thành vật liệu mà phải bắt đầu từ đào tạo đội ngũ. Nếu không, công trình sẽ chỉ còn là xây dựng cơ bản theo ý nghĩa kinh tế thuần túy.

Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Bình cho biết, bản thân Viện Mỹ thuật nơi anh làm việc có chức năng nghiên cứu và không ít người có chuyên môn cao về mỹ thuật cổ, nhưng ít khi Bộ Văn hóa kêu gọi viện cùng vào cuộc trong lĩnh vực trùng tu di tích. Vì vậy, đến nay viện chủ yếu nghiên cứu và cho ra các sản phẩm sách, dù nhiều nhưng hầu như chỉ để cho sinh viên và những người quan tâm tham khảo. “Dường như bộ đã quên đi vai trò quan trọng nhất của một viện nghiên cứu là áp dụng các công trình nghiên cứu vào thực tiễn”, anh Bình tỏ vẻ tiếc nuối.

Vẫn là một chữ “tâm” trong bảo tồn di tích cổ, ông Lương Hồng Quang dẫn dụ về mô hình mình đã gặp trong chuyến đi công tác tại Trung tâm Bảo tồn di sản của vùng Wallonia (Bỉ). “Ở đó có một nghệ nhân mộc chuyên tập huấn cho các thợ mộc cách ứng xử một di sản gỗ khác với một vật thể gỗ thông thường như thế nào. Đối với di sản, họ sẽ làm thận trọng hơn, hoặc lựa chọn chất liệu gỗ cho di sản một cách hợp lý, có giá trị tương đương mà không làm hư hại đến giá trị tinh thần của các di sản vật thể. Về mặt kỹ thuật không khác nhau, nhưng đây là về ứng xử”, ông Quang nói.

Điệp Trần

(Năng lượng Mới số 142, ra thứ Ba ngày 31/7/2012)