Về tổng thể và dài hạn, cần tiếp tục xác định hướng phát triển tổng thể của hệ thống tài chính – ngân hàng, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu:
Thứ nhất, tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với cơ cấu và tính chất hoạt động như một Ngân hàng Trung ương hiện đại, ngày càng hoạt động theo cơ chế thị trường đầy đủ, được trao quyền độc lập, tự chủ hơn trong việc đưa ra các quyết định chính sách, quyền chủ động về ngân sách; đồng thời, được quyền kiểm soát tất cả các công cụ có ảnh hưởng tới các mục tiêu của chính sách tiền tệ, nhất là về vấn đề chống lạm phát, hạn chế việc tài trợ trực tiếp cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ.
Thứ hai, tăng cường tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng theo yêu cầu hiện đại và bền vững theo hướng: đa dạng hóa sở hữu, loại hình, sản phẩm; hợp lý về quy mô, giảm nhanh số lượng các ngân hàng và tổ chức tín dụng yếu kém (ngoài 3 ngân hàng thương mại nhỏ đã thực hiện hợp nhất làm một trong cuối năm 2011. Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, năm 2012, NHNN có thể sáp nhập, hợp nhất hay xử lý 5-8 ngân hàng và có thể nhiều hơn nữa); nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khả năng quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn ngày càng cao; khuyến khích những ngân hàng có điều kiện phát triển, hợp nhất, mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế; thiết lập trật tự kỷ cương trong việc quản lý và sử dụng ngoại hối; từng bước giảm tỉ lệ cung cấp vốn cho đầu tư phát triển từ hệ thống ngân hàng thương mại, tăng tỉ trọng huy động vốn từ thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp…
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế giám sát, ổn định tài chính – ngân hàng. Tăng cường giám sát chuyên ngành và giám sát tổng hợp, chéo… theo yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng quốc gia; quy định rõ ràng mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, đảm bảo tính đồng bộ của cơ sở pháp lý và hiệu lực thực tế của các Luật Ngân sách, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Giám sát an toàn, Luật Kinh doanh chứng khoán, bám sát vào định hướng chung nói trên. Đặc biệt, cần tăng cường năng lực và hiệu lực của hệ thống các định chế, các quy tắc và các hoạt động giám sát an toàn tài chính các cấp, bảo vệ người gửi tiền tiết kiệm, kể cả việc tăng mức bảo hiểm tiền gửi để bảo vệ lợi ích người gửi tiền, giữ ổn định lượng tiền gửi trong các ngân hàng; đồng thời tăng các hoạt động thông tin, tuyên truyền và kiểm soát nhằm giảm thiểu các khoản đầu tư có tính đầu cơ cao, ngắn hạn, dễ gây các hiệu ứng tiêu cực trên thị trường tài chính trong nước…
Năm 2012, một mặt, một số ngân hàng và công ty tài chính tiếp tục có sự căng thẳng về thanh khoản và thu hồi nợ cũ, nhất là những khoản đã cho vay với lãi suất cao trong các lĩnh vực kinh doanh bất động sản và chứng khoán. Nếu việc thu hồi nợ không tốt có thể còn làm gia tăng rủi ro mới gắn với sự giảm giá mạnh và trầm lắng hơn nữa thị trường bất động sản, kể cả bất động sản thế chấp… Điều này đồng nghĩa với sự thiệt hại trực tiếp giảm giá trị tài sản nợ của ngân hàng và công ty đầu tư tài chính nào có lượng tài sản nhận thế chấp các khoản cho vay và đầu tư bằng bất động sản; mặt khác, Việt Nam có một số cơ hội thuận lợi về tài chính, như: Thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực, tỉ giá dần ổn định, trạng thái ngoại hối của hệ thống ngân hàng, dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện.
Mua bán ngoại tệ và kinh doanh vàng được kiểm soát đã có kết quả bước đầu. Vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo được môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Việt Nam vẫn được cộng đồng doanh nghiệp và nhiều tổ chức thế giới tin cậy vào sự ổn định và triển vọng đầu tư tốt cả về trung và dài hạn. Ngoài ra, về tổng thể, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế của mình gắn với nhu cầu nội tại và bối cảnh mới, trong đó có cả sức ép từ biến đổi khí hậu toàn cầu… Quá trình đó tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp nhận các chuyển giao cơ cấu từ các trung tâm phát triển hơn, nhất là các cơ sở công nghiệp phụ trợ, đón bắt cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu với vị thế cao hơn, tạo ra nhiều cơ hội mới về tăng tổng cung tiếp nhận các dòng vốn ngoại và những nhu cầu và cơ hội đầu tư mới.
Tái cấu trúc hệ thống tài chính – ngân hàng trong thời gian tới là rất bức thiết, dù sẽ gặp nhiều khó khăn và cả rủi ro gắn với sự lựa chọn định hướng đầu tư, sản phẩm, ngành và lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và địa phương theo các khía cạnh: (i). Rủi ro từ khả năng thanh khoản kém hơn cho các khoản vay mới do giảm nguồn thu tài chính từ sự từ bỏ thị trường và sở trường, việc làm cũ, trong khi thị trường mới và sở trường mới chưa xuất hiện ngay và sức cạnh tranh mới chưa xác lập vững chắc; (ii). Rủi ro từ nguy cơ gia tăng nợ nần của doanh nghiệp – con nợ gắn với thiếu hụt nguồn vốn duy trì đầu tư cũ và cần thêm các khoản vay mới cho tái cấu trúc; (iii).
Rủi ro từ sự lạm dụng, thất thoát và tham nhũng vốn đầu tư mới cho những dự án đầu tư mới trong khuôn khổ hoặc nhân danh tái cấu trúc, nhất là khu vực đầu tư công; (iiii). Rủi ro từ việc lãng phí các dự án đầu tư dở dang theo mô hình đầu tư cũ… Các ngân hàng và công ty tài chính nào càng gắn với các hoạt động đầu tư đa ngành của các tập đoàn kinh tế nhà nước thì nhóm nguy cơ rủi ro loại này càng cao. Các tổ chức tín dụng và công ty tài chính trực thuộc các tập đoàn theo mô hình cũ còn đối diện với nguy cơ giảm dần quy mô, phạm vi hoạt động hoặc phải tách ra hoạt động như một tổ chức tài chính – tín dụng độc lập và chuyên nghiệp trên thị trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt.
Thực tế cũng cho thấy, trong quá trình tái cấu trúc và đổi mới hoạt động quản lý hệ thống – ngân hàng, cần sớm thực hiện mềm hóa trần lãi suất huy động, khống chế trần lãi suất cho vay nhằm hạn chế tình trạng buôn bán vốn lòng vòng và giảm thiểu cho vay rủi ro vào lĩnh vực đầu cơ, từ đó giúp cải thiện nguồn vốn cho đầu tư sản xuất, cũng như giảm thiểu nguy cơ bất ổn hệ thống ngân hàng; cần sử dụng nhiều hơn các công cụ kinh tế (mua bảo hiểm tiền gửi bắt buộc ở mức cao và lũy tiến theo quy mô huy động tín dụng và sự lành mạnh của hoạt động tín dụng của ngân hàng; tăng các chế tài phạt tài chính nghiêm khắc đủ sức răn đe những vi phạm quản lý ngân hàng…) cùng với các công cụ hành chính (quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc và không chế hạn mức tín dụng…) để hướng ngân hàng vào các hoạt động tín dụng mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế.
TS Nguyễn Minh Phong







© 2011